Sunday, September 20, 2020

Thắng Pháp Abhidhamma - Bài 27 Tâm Siêu Thế - Chủ Nhật, ngày 20 tháng 9, 2020

 Thắng Pháp Abhidhamma

Giảng Sư: TT Giác Đẳng

Giáo trình Thắng Pháp Abhidhamma NGÀY  20/9/2020 

Bài 27

 Tâm Siêu Thế (Lokuṭṭaracitta)

 Tâm siêu thế - lokuṭṭaracitta – là tâm biết cảnh nibbàna, một trạng thái vượt ngoài ba hạn cuộc của thế gian là dục giới, sắc giới, vô sắc giới.

 Nibbàna – thường âm là niết bàn hay níp bàn – là pháp xuất thế; không thuộc năm uẩn; không do nhân do duyên tác thành (vô vi). Trong Tăng Chi Bộ I ghi lại Phật ngôn về nibbàna: Niết bàn phải được tự thân chứng ngộ, vượt ngoài thời gian, đến để thấy, hướng nội và tỏ ngộ, cảm nhận bởi người có trí (A. I. 158)

 Mặc dù có những tâm dục giới cũng biết được cảnh nibbàna (…) nhưng cái biết của tâm siêu thế là cái biết chuyên biệt của hai lãnh vực giác ngộ và giải thoát (đạo và quả). Khi đi sâu vào bốn tâm đạo, bốn tâm quả sẽ nhận rõ cái biết nibbàna của tâm siêu thế mang tánh chuyên biệt ra sao.

 Trong những tâm siêu thế, tâm sơ đạo là cái biết cái chưa từng biết (vị tri quyền) dù đã trãi qua vô lượng kiếp sanh tử. Sự liễu chứng nầy không giống bất cứ kinh nghiệm nào có được. Một ví dụ kinh điển là ngụ ngôn con cá hỏi con rùa về sự đi lại trên mặt đất: con cá không bao giờ có thể hiểu được bằng kinh nghiệm sống trong nước.

 Một điểm cần lưu ý khi nói về pháp siêu thế là không thực chứng thì không thể biết. Trong Trung Bộ II có ghi lại lời Phật dạy về luận điểm của bà la môn Pokkharasāti đối với nibbàna: như một người khiếm thị bẩm sinh không có thể nào nhận biết được những màu sắc xanh, đỏ, vàng, trắng… qua sự diễn tả của lời nói.

 Nên hiểu những gì có thể nói và những vì vượt ngoài ngôn từ. Có ba cách nói về pháp siêu thế: một là dùng phủ định từ như câu không tham, không sân, không si là nibbàna ; hai là dùng danh từ gần đồng nghĩa như thanh lương, tịch tịnh, vô nhiễm; ba là dùng những thí dụ. Cho dù cách nào thì cũng chỉ nói được một vài khía cạnh nhưng không thể nói hết.

 Tâm siêu thế có hai là tâm đạo và tâm quả. Đạo quả ở đây không giống như quan niệm thường có về Phật học. Thí dụ gọi là tâm quả vì là quả của tâm đạo chứ không phải là ngôi vị do vun công bồi đức mà có.

 Có tất cả 40 tâm siêu thế gồm bốn tâm đạo (tu đà huờn, tư đà hàm, a na hàm, a la hán), bốn tâm quả nhân cho năm thiền chứng (sơ, nhị, tam, tứ, ngũ thiền). Dù một vị không có thiền chứng samatha thì khi đắc đạo chứng quả lúc ấy tâm thái tương đương với sơ thiền.

 

  Chữ siêu thế và  xuất thế đôi khi được xem là đồng nghĩa. Tuy vậy ở đây chữ siêu thế rất cần được nhấn mạnh. Chữ xuất thế là ra khỏi thế gian có thể bị hiểu lầm là “có một cái đi ra ngoài hạnh cuộc thế gian” cũng như cụm từ “nhập niết bàn” có hàm nghĩa “có cái gì đi vào cảnh giới niết bàn”. Do vậy chữ siêu thế - không thuộc thế gian – là từ đắc dụng ở đây.

 


 Tâm siêu thế là tâm biết cảnh xuất thế gian chứ không phải tâm ở ngoài thế gian. Tất cả tâm đều thuộc pháp hữu vi.

 

Một đứa trẻ được khuyên dạy bớt ham chơi để tâm cho việc học hành. Với đầu óc non dại hỏi cha mẹ có phải khi học hành đỗ đạt là sẽ có nhiều đồ chơi hơn. Câu trả lời sẽ khiến đứa bé thất vọng. Cái nhìn đối với niết bàn của phàm nhân cũng vậy. Chính vì vậy Đức Phật dùng chữ “khổ diệt -nirodha” để chỉ niết bàn.

 


Tâm siêu thế - lokuṭṭaracitta – là tâm biết cảnh nibbàna

Mặc dù có những tâm dục giới cũng biết được cảnh nibbàna nhưng cái biết của tâm siêu thế là cái biết chuyên biệt của hai lãnh vực giác ngộ và giải thoát

 Tâm siêu thế có hai là tâm đạo và tâm quả. Đạo quả ở đây không giống như quan niệm thường có về Phật học. Thí dụ gọi là tâm quả vì là quả của tâm đạo chứ không phải là ngôi vị do vun công bồi đức mà có.

 


Tâm siêu thế trong biểu đồ chư pháp:



 


Bài học trước là: Các Loại Tâm Vô Sắc Giới

Bài học tiếp theo sẽ là: Tâm Đạo



II Thảo Luận: TT Giác Đẳng điều hành

T
     Thảo luận 1.Tại sao tâm sơ đạo “biết cái chưa từng biết” lại có thuộc tánh TƯỞNG (biết do kinh nghiệm từng biết)? - TT Tuệ Siêu 

Thảo luận 3. Tại sao trong Thắng pháp Abhidhamma chỉ đề cập tâm tứ quả hay tâm tố mà không có tâm riêng biệt của chư vị toàn giác, độc giác và thinh văn giác? - TT Tuệ Siêu
 
Thảo luận  4. Nibbāna (níp bàn hay niết bàn) không thể cảm nhận hoàn toàn bằng ngôn ngữ như vậy được nói đến mức độ nào được xem là “vừa phải”? - TT Tuệ Siêu 


 III Trắc Nghiệm

Thursday, September 17, 2020

Thắng Pháp Abhidhamma - Bài 26 Các Loại Tâm Vô Sắc Giới - Thứ Năm, ngày 17 tháng 9, 2020

 Thắng Pháp Abhidhamma

Giảng Sư: TT Giác Đẳng

Giáo trình Thắng Pháp Abhidhamma NGÀY  17/9/2020 

Bài 26

 Các Loại Tâm Vô Sắc Giới (Arūpāvacara Citta) 

 Mặc dù trong cách mô tả thì để chứng tâm “thức vô biên”, thiền giả phủ nhận “chân không là vô biên” sự phủ nhận nầy chỉ xảy ra trong giai đoạn tu tập. Những tâm thiền vô sắc là trạng thái thiền chứng xác lập “chân không là vô biên”, “thức là vô biên..như phạm trù định tâm.

 Tâm vô sắc giới, tương tự như tâm sắc giới, có ba loại: tâm thiện vô sắc, tâm quả vô sắc, tâm tố vô sắc.

 A. TÂM THIỆN VÔ SẮC GIỚI (ARŪPĀVACARAKUSALACITTA)

 Đây là thiền chứng do tu tập trong kiếp hiện tại. Trước khi Đức Phật thành đạo có ba nhân vật được ghi nhận là chứng thiền vô sắc là đạo sĩ Asita (gặp thái tử Siddhattha sơ sinh), đạo sĩ Alara Kàlama, đạo sĩ Uddaka Ràmaputta. Theo sớ giải những vị chứng thiền vô sắc rất khó hoại thiền trước khi mạng chung.

 Một vị thánh tam quả muốn nhập diệt thọ tưởng định cần chứng Tâm thiện phi tưởng phi phi tưởng xứ.

 Bốn tâm thiện vô sắc là:

 1. Tâm thiện không vô biên xứ

(ākāsānañcāyatanakusalacittaṃ)

 2. Tâm thiên thức vô biên xứ

(viññāṇañcāyatanakusalacittaṃ)

 3. Tâm thiện vô sở hữu xứ

(ākiñcaññāyatanakusalacittaṃ)

 4. Tâm thiện phi tưởng phi phi tưởng xứ

(nevasaññānāsaññāyatanakusalacittaṃ)

 B. TÂM QUẢ VÔ SẮC GIỚI (ARŪPĀVACARAVIPĀKACITTA)

 Tâm quả vô sắc là tâm dị thục của tâm thiện vô sắc chỉ làm ba việc tục sinh, tiềm thức và mệnh chung của chư vị phạm thiên vô sắc. Bởi vì là quả của tâm thiện nên cảnh và trạng thái giống như tâm thiện chỉ khác là tương đối muội lược trong dạng tiềm thức. Chư vị bồ tát huân tu ba la mật ít khi mong muốn sanh về cõi vô sắc vì tuổi thọ quá dài (….)

 Bốn tâm quả vô sắc là:

 1. Tâm quả không vô biên xứ

(ākāsānañcāyatanavipākacittaṃ)

 2. Tâm quả thức vô biên xứ

(viññāṇañcāyatanavipākacittaṃ)

 3. Tâm quả vô sở hữu xứ

(ākiñcaññāyatanavipākacittaṃ)

 4. Tâm quả phi tưởng phi phi tưởng xứ

(nevasaññānāsaññāyatanavipākacittaṃ)

 C. TÂM TỐ VÔ SẮC GIỚI (ARŪPĀVACARAKIRIYACITTA)

 Tâm tố vô sắc là tâm thiền chứng vô sắc của chư vị ứng cúng vô sanh. Một vị a la hán muốn nhập thiền diệt thọ tưởng định cần có thiền chứng phi tưởng phi phi tưởng xứ. Không phải tất cả chư vị a la hán đều có thiền chứng sắc giới và vô sắc giới. Những vị thành tựu tuệ giác và có thiền chứng gọi là bậc câu phần giải thoát.

 Bốn tâm tố vô sắc là:

 1. Tâm tố không vô biên xứ

(ākāsānañcāyatanakiriyacittaṃ)

 2. Tâm tố thức vô biên xứ

(viññāṇañcāyatanakiriyacittaṃ)

 3. Tâm tố vô sở hữu xứ

(ākiñcaññāyatanakiriyacittaṃ)

 4. Tâm tố phi tưởng phi phi tưởng xứ

(nevasaññānāsaññāyatanakiriyacittaṃ)


Chữ Āyatana ở đây dịch là xứ có nghĩa là cảnh giới, hay phạm trù định tâm không giống với ý nghĩa của 12 xứ.


Bốn án xứ của thiền vô sắc chỉ là phạm trù định tâm chứ không mang tánh khẳng định như giáo nghĩa thí dụ án xứ hư không là vô biên, thức là vô biên, hoặc dùn tâm hay cảnh đều là không….chỉ đơn thuần là phạm trù định tâm. Suzuki, tác giả bộ Thiền Luận, từng nói rằng chính qua niệm “nhất thiết giai không” đã làm hỏng sự thanh tu của phần lớn Tăng sĩ Nhật Bản vì xem giới luật là sự chấp thủ. 

 

Trong đời sống của con người có người thiên về vật chất, máy móc cũng có người thiên về văn học, nghệ thuật. Có những lẽ sống rất trừu tượng mà chỉ có người trong thế giới đó mới cảm nhận thật sự. Thiền vô sắc cũng khó cảm nhận như vậy.


Có ba loại tâm vô sắc giới: tâm thiện vô sắc, tâm quả vô sắc, tâm tố vô sắc.

 Chư vị thánh tam quả tứ quả muốn nhập diệt thọ tưởng định cần chứng Tâm thiện phi tưởng phi phi tưởng xứ. Đó là tần thiền cao tột kết hợp cả tâm giải thoát và tuệ giải thoát.

 Trước khi Đức Phật chuyển pháp luân đã có nhiều vị chứng thiền vô sắc được ghi nhận trong Tam Tạng.

Ba lại tâm vô sắc giới trong biểu đồ chư pháp:


Bài học trước là: Các Loại Tâm Vô Sắc Giới

Bài học tiếp theo sẽ là: Tâm Siêu Thế



II Thảo Luận: TT Giác Đẳng điều hành

T
      Thảo luận 1. Một vị A La Hán dùng tâm đại tố để tu thiền và chứng những tâm thiền vậy tại sao có thể gọi “duy tác”? - TT Tuệ Siêu

      Thảo luận 1b. Nếu dựa trên những gì đã trả lời cho câu 1 thì một người chăm chỉ học hỏi (bằng tâm thiện dục giới tịnh hảo) để rồi có được kiến thức sâu rộng (cũng là  tâm thiện dục giới tịnh hảo) có gọi là nhân quả chăng? (mặc dù không thể gọi là tâm quả dị thục) - TT Tuệ Siêu

 Thảo luận 1 c. Nếu một người siêng năng học hỏi sau nầy có bằng cấp rồi tìm được việc làm có lương cao, cuộc sống phú túc. Nếu nói theo Thắng Pháp Tạng thì sự phú túc đó có thể gọi là quả dị thục của sự chuyên cần học hỏi? Có phải là hiện báo nghiệp chăng? - TT Tuệ Siêu


 III Trắc Nghiệm

Sunday, September 13, 2020

Thắng Pháp Abhidhamma - Bài 25 Tâm Vô Sắc Giới - Chủ Nhật, ngày 13 tháng 9, 2020

 Thắng Pháp Abhidhamma

Giảng Sư: TT Giác Đẳng

Giáo trình Thắng Pháp Abhidhamma NGÀY  13/9/2020 

Bài 25

 Tâm Vô Sắc Giới (Arūpāvacara Citta) 

 Tâm Vô Sắc Giới (Arūvacara Citta), cũng như tâm sắc giới, là tâm chứng thiền (jhāna). Khác với tâm sắc giới, tâm thiền vô sắc định tâm ở đối tượng hoàn toàn trừu tượng vượt khỏi vật chất. Bốn án xứ trừu tượng của thiền vô sắc là:

 - Không vô biên xứ (ākāsānañcāyatanabhūmi)

- Thức vô biên xứ (viññāṇañcāyatanabhūmi)

- Vô sở hữu xứ (ākiñcaññāyatanabhūmi)

- Phi tưởng phi phi tưởng (nevasaññānāsaññāyatanabhūmi)

 Chú tâm vào đề mục bằng định lực của ngũ thiền

 Không phải là chìm vào thế giới tư duy trừu tượng là nhập thiền vô sắc mà phải tập chú bằng năng lực tam muội định của ngũ thiền sắc giới là tâm có hai thiền chi xả và định. Thiền vô sắc cần sự biến mãn vô hạn định nêu không thể đạt được với tâm thiền thấp hơn. Thí dụ có những định luật vật lý không thể đo đạt bằng dụng cụ mà chỉ thuần dựa trên những phương trình toán học. Để thấu hiểu và chứng minh những phương trình đó cần trình độ cao.

 Dùng ý niệm vô hạn vượt lên trên cái hữu hạn

 Sự khác biệt giữa vật chất và phi vật chất đối với thiền giả là vật chất hữu hạn còn phi vật chất là vô hạn. Tất cả đơn vị vật chất cực vi đều được tách rời bởi “chân không”. Như vậy vật chất luôn hữu hạn và chỉ có “hư không là vô biên”. Ý niệm đó giúp vượt khỏi tất cả những quan niệm liên hệ tới vật chất dù là hình tướng hay màu sắc.

 Khi sự phủ nhận là lực đẩy

 Trong sự tu luyện tam muội định bằng án xứ vô sắc điểm nổi bật là sự phủ nhận ý niệm hiện có để làm điểm tựa vươn lên. Từ sự phủ nhân tánh biến mãn vô lượng của sắc, hành giả khai triển tâm định trên ý niệm chỉ có chân không là vô biên; đi xa hơn, hành giả khẳng định là chân không còn bị tâm biết nên không gọi thể là vô biên mà chỉ có cái biết hay thức là vô biên; tiếp sau đó là ý niệm phủ nhận tánh vô biên của cả hai tâm và cảnh vì nếu cảnh là hữu hạn thì tâm biết cảnh không thể là vô hạn từ đó hành giả an trú vào ý niệm tất cả đều không thực; ở bước sau cùng gần giống như sự quay đầu (uturn): đành rằng tất cả đều không nhưng còn có cái biết tất cả đều không nên “chẳng phải là nhận thức, chẳng phải là không nhận thức”

 Khi hư là thực, thực là hư

 Trong bốn án xứ của tâm thiền vô sắc thì hai án xứ không vô biên xứ và vô sở hữu xứ thuần là khái niệm thi thiết không phải là cảnh chân đế trong lúc hai án xứ thức vô biên xứ và phi tưởng phi phi tưởng xứ biết cảnh chân đế vì quán chiếu đối với nhận thức (tâm) chứ không phải dựa trên đối tượng của tư duy (cảnh).

 Sự áp đảo của luật tương đối

 Mặc dù trong thiền vô sắc tầng cao hơn phủ nhận tầng thấp hơn nhưng không có giá trị tuyệt đối. Ý niệm chân không là vô biên đúng với so với vật chất nhưng không đúng theo thiền án thức vô biên. Đi xa hơn cũng vậy. Không có giá trị tuyệt đối tại đây. Thí dụ như chúng ta nói: càng học càng thấy mình dốt. Người ta có thể phản bác nến càng học càng thấy mình dốt thì học để là gì? Vì học là để hết dốt. Thực tế thấy được cái dốt của mình cũng là sự hiểu biết nên có.

 Chỉ là phương tiện để nâng cao định lực

 Bốn án xứ của thiền vô sắc là chân không vô biên, thức vô biên, vô sở hữu, phi tưởng phi phi tưởng không phải là những định luật mà là phương tiện để khai triển tam muội định thí dụ như văn phạm là những quy ước không mang giá trị vĩnh cữu nhưng nói sai văn phạm thì ngôn ngữ bất thông. Tất cả án xứ đều mang tánh thuần về “kỹ thuật” không có chuyện đúng sai, phải quấy. Khi Đức Phật nhập vào không vô biên xứ không có nghĩa là Ngài nhận thức sai để rồi khi thể nhập thức vô biên xứ thì phủ nhận ý niệm trước kia.

 Không có sự chồng lấn trong cảnh giới thuần tư duy bằng định lực

 Trong thiền sắc giới cũng án xứ đó càng tu tập càng thuần thục, càng giảm bớt các thiền chi (tầm, tứ, hỷ, lạc, định). Điều nầy tạo nên các tầng thiền sắc giới như sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền, ngũ thiền. Trong thiền vô sắc mỗi tầng thiền là một án xứ riêng biệt thậm chí tầng cao hơn phủ nhận tầng thấp hơn. Chính vì điểm nầy cả bốn tầng thiền vô sắc đều có bốn án xứ hoàn toàn khác nhau.

 

Chữ rūpā trong Phạn ngữ thường được dịch trong Hán ngữ là sắc. Cả hai đều được dùng trong nhiều ý nghĩa tuỳ ngữ cảnh có thể là đối tượng của thị giác tức cảnh sắc; hoặc là hình tưởng như tượng Phật. Chữ sắc và vô sắc trong thiền chỉ cho án xứ liên hệ vật chất hay phi vật chất.

 

Thiền sắc và thiền vô sắc được dạy bởi Đức Phật và cũng có trong bà la môn giáo. Khi Phật giáo phát triển sau nầy thì những án xứ của thiền vô sắc được khai triển thành những hệ tư tưởng quan trọng nhưng từ “chân không vô biên” tạo thành “thế giới hoa tạng” của Kinh Hoa Nghiêm; “thức vô biên” tạo thành “duy thức” trong Pháp tướng tông; “vô sở hữu” tạo thành “giáo lý Tánh Không” và “phi tưởng phi phi tưởng” là nền tảng của “giáo lý Bát nhã”. Điều nên nhớ là theo Tam tạng Pàli bốn khái niệm trên hoàn toàn là án xứ để khai triển tam muội định của thiền vô sắc không phải là nền tảng chủ đạo của giáo điển. Một điểm quen thuộc của Phật giáo Đại Thừa là ý niệm “phương tiện mà nói” của Phật là điều xa lạ với Tạng Pàli.

Ngày nay khi người ta phóng phi thuyền vũ trụ thám hiểm các hành tinh xa xôi như hoả tinh (Mar) thì ngoài hoả tiển còn dùng tới  lực đẩy của các hành tinh để đưa phi thuyền đến đích điểm mong muốn. Điều nầy có thể dùng làm thí dụ cho “lực đẩy” của các tầng thiền vô sắc: mượn thế mà đi tới. Đơn giản chỉ có vậy: không hơn không kém.

 

Tâm vô sắc giới là những thiền chứng đạt bằng những án xứ trừu tượng.

 Bốn án xứ Không vô biên xứ (ākāsānañcāyatanabhūmi), Thức vô biên xứ (viññāṇañcāyatanabhūmi), Vô sở hữu xứ (ākiñcaññāyatanabhūmi), Phi tưởng phi phi tưởng (nevasaññānāsaññāyatanabhūmi) là ý niệm nâng cao tâm định chú không là những định luật cố nhiên.

 Ý niệm vượt thoát khỏi những hạn cuộc luôn chủ đạo trong bốn án xứ vô sắc.

Tâm vô sắc giới trong biểu đồ chư pháp:

Bài học trước là: Các Loại Tâm Sắc Giới

Bài học tiếp theo sẽ là: Các Loại Tâm Vô Sắc Giới



II Thảo Luận: TT Giác Đẳng điều hành

TThảo luận 1. Tất cả tâm vô sắc đều là trạng thái ngũ thiền (xả và định) thì như vậy có cao hay thấp chăng hay chỉ có trước sau thôi? - TT Tuệ Siêu

      Thảo luận 2. Tại sao một vị đã chứng tầng cao hơn như thức vô biên lại có thể nhập vào không vô biên mới nghe như sự bất nhất? - TT Tuệ Siêu
       


 III Trắc Nghiệm